Monday, August 5, 2013

Thánh Gioan Thánh giá  tranh ve cua HBTT
 
 
 
 
Thánh Gioan Thánh giá [14-12]
Gioan là thánh vì cuộc đời ngài là một nỗ lực quả cảm dám sống trọn với tên của ngài: "Gioan của Thánh Giá". Sự điên rồ của thập giá đã được thể hiện nơi cuộc đời Ngài. Câu nói bất hủ của Ðức Kitô: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Ta." (Mc 8,34b) là câu chuyện cuộc đời Thánh Gioan. Mầu nhiệm Vượt Qua - từ sự chết đến sự sống - đã được thể hiện trong cuộc đời Thánh Gioan như một nhà cải cách, một nhà thơ thần bí và là một Linh mục thần học.

Sinh ngày 24 tháng 6 năm 1542 tại Fontiveros, Tây Ban Nha, Gioan hiểu được sự quan trọng của tình yêu tự hiến là nhờ cha mẹ. Cha ngài đã hy sinh của cải, danh vọng và sự an nhàn khi kết hôn với cô con gái của người thợ dệt và vì đó đã bị gia đình từ bỏ. Sau khi cha ngài từ trần, mẹ ngài cố gắng đùm bọc gia đình trong khi họ lang thang đầu đường xó chợ để kiếm việc làm. Những tấm gương hy sinh ấy đã giúp Gioan theo đuổi tình yêu vĩ đại của chính ngài dành cho Thiên Chúa.

Dù gia đình đã tìm được việc làm, nhưng vẫn không đủ ăn nên Gioan phải lang thang giữa thành phố giàu có nhất Tây Ban Nha. Năm 14 tuổi, Gioan được nhận vào làm việc trong bệnh viện với nhiệm vụ trông coi các bệnh nhân bị những chứng bệnh bất trị hoặc bị điên dại. Chính trong sự đau khổ và nghèo nàn này, Gioan đã nhận biết và đã đi tìm hạnh phúc không ở nơi trần gian, nhưng ở nơi Thiên Chúa.

Năm 1563, sau khi Gioan gia nhập dòng Carmel đi chân đất, Thánh Têrêsa Avila nhờ ngài tiếp tay trong công việc cải cách. Cả hai đều tin rằng nhà dòng phải trở về với đời sống cầu nguyện. Nhiều tu sĩ Carmel cảm thấy bị đe dọa bởi sự cải tổ này nên một số tu sĩ đã bắt cóc thánh nhân. Ngài bị nhốt trong một xà lim nhỏ hẹp ở Toledo (Tây Ban Nha) và bị tra tấn ba lần một tuần bởi chính các tu sĩ. Trong cái tăm tối, lạnh lẽo, và cô quạnh của xà lim, tình yêu và đức tin của ngài bừng lên như lửa. Ngài mất hết tất cả ngoại trừ Thiên Chúa và Thiên Chúa đã đem cho ngài niềm vui vĩ đại trong cái xà lim nhỏ bé đó.

Sau 9 tháng tù đày, Cha Gioan vượt ngục bằng lối cửa sổ duy nhất của xà lim mà ngài đã leo lên đó bằng sợi dây được kết bằng tấm vải trải giường, và đem theo tất cả các bài thơ huyền bí mà ngài sáng tác trong thời gian tù đày. Vì không biết mình đang ở đâu, ngài phải theo một con chó để đi vào thành phố. Ngài trốn trong bệnh xá của một tu viện và ở đây ngài đọc thơ cho các nữ tu nghe. Từ đó, cuộc đời ngài tận tụy cho việc chia sẻ và dẫn giải tình yêu Thiên Chúa.

Lẽ ra cuộc đời nghèo khổ và tù đày đã biến ngài thành một con người yếm thế cay đắng. Nhưng ngược lại, ngài đã trở thành một người đam mê bí ẩn, sống với sự tin tưởng rằng: "Có ai thấy người ta yêu mến Thiên Chúa bởi sự tàn nhẫn đâu?" và "Ở đâu không có tình yêu, hãy đem lại tình yêu – và bạn sẽ tìm thấy tình yêu."

Vì niềm vui chỉ xuất phát từ Thiên Chúa nên Thánh Gioan tin rằng những ai tìm kiếm hạnh phúc ở trần gian này thì giống như "một người đang chết đói mà há miệng đớp lấy không khí". Ngài dạy rằng chỉ khi nào chúng ta dám cắt bỏ sợi dây dục vọng thì chúng ta mới có thể bay lên cùng Thiên Chúa.

Là một tu sĩ dòng Carmel, ngài cảm nghiệm sự thanh luyện tinh thần; là vị linh hướng, ngài cảm được cuộc chiến đấu tinh thần nơi người khác; là một thần học-tâm lý gia, ngài diễn tả và phân tích giá trị của sự đau khổ trong các văn bản của ngài. Hầu hết các văn bản của ngài đều nhấn mạnh đến cái giá phải trả của tinh thần kỷ luật, con đường hiệp nhất với Thiên Chúa là: sống kỷ luật, từ bỏ mình, thanh luyện. Một cách độc đáo và mạnh mẽ, Thánh Gioan nhấn mạnh đến sự mâu thuẫn của Phúc Âm: Thập giá dẫn đến sự cứu chuộc; Đau khổ dẫn đến sự ngất ngây; Tăm tối dẫn đến sự sáng; Khi từ bỏ là lúc làm sở hữu: Hy sinh bản thân để kết hợp với Thiên Chúa; Nếu bạn muốn giữ mạng sống mình thì bạn sẽ mất. Thánh Gioan quả thật là người "của Thánh Giá."

Ngài từ trần năm 49 tuổi, ngày 14 tháng 12 năm 1591 tại Ubeda, Andalusia, Tây Ban Nha. Cuộc đời thật ngắn ngủi, nhưng trọn vẹn. Cha Gioan được mai táng trong hầm mộ dưới nền nhà thờ. Vào đêm ngày thứ hai sau lễ an táng, các đan sĩ nhìn thấy một luồng sáng lớn bừng cháy trong nhiều phút.

Sau khi thánh nhân qua đời được chín tháng, mộ phần của ngài được mở ra lần đầu. Bà Doda Anna de Penisola vì muốn đem thi hài đấng thánh về trở về ngôi nhà bà đã xây dựng cho ngài tại thành phố Segovia nên đã xin được phép chính thức cải táng thi hài sau khi ngài qua đời 18 tháng.

Lúc đó, một thuộc quyền của Nhà Vua là trung sĩ Phanxicô de Medina Zavallos được sai đến Ubeda để thương lượng việc chuyển hài cốt. Vâng theo thượng lệnh, cha bề trên đã đưa viên sứ giả vào nhà thờ ban đêm. Và khi mở cửa mộ, họ nhận ra một mùi thơm và thấy thi hài đấng thánh vẫn còn nguyên vẹn và mềm mại. Cha bề trên khi ấy từ chối không cho đem thi hài đi khỏi viện cớ lệnh chính thức chỉ truyền chuyển các xương mà thôi. Lúc ấy, trung sĩ Zavollas cắt một ngón tay để trình cho bà Doda Anna để làm bằng chứng xác thánh vẫn còn nguyên vẹn. Khi ngón tay bị cắt, máu tuôn ra nhỏ giọt như thể của một người đang song.

Sau chín tháng chờ đợi thêm nữa, trung sĩ Zavollas lại đến Ubeda. Mộ phần được mở ra và thi hài được thấy vẫn còn toàn vẹn bên dưới lớp vôi đã được đổ vào lần trước. Trung sĩ cho xác thánh vào một chiếc bao và đem đi, nhưng mùa thơm từ xác thánh tỏa ra khắp nơi và gợi sự tò mò khi viên trung sĩ đi ngang qua, đến nỗi ai cũng gạn hỏi là trong bao có gì. Đến Madrid, các đan sĩ dòng Kín đặt xác thánh vào một quan tài để chuyển về Segovia cho xứng đáng. Khi đến nơi, thi hài đấng thánh đã được nghinh tiếp với tất cả sự cung kính tôn vinh và được trưng bày trong nguyện đường cho các tín hữu đông đảo đến kính viếng.

Thi hài Thánh nhân được cải lên vào các năm 1859 và 1909. Đến năm 1926, một đài vị nguy nga bằng cẩm thạch và đồng với màu sắc đep đẽ đã được xây dựng bằng số tiền quyên góp toàn quốc và được các nghệ nhân danh tiếng nhất Tây Ban Nha thực hiện. Trong lúc chuyển dời thi hài Thánh nhân đến đài vị mới này, thi hài lại được mở ra cho các tín hữu kính viếng. Lần cải táng gần đây nhất là vào năm 1955 nhân chuyến kinh lý của cha tổng quyền dòng Carmêlô. Lúc ấy, thi hài Thánh nhân đã thấy hơi biến màu nhưng vẫn còn mềm mại tươi tốt.

Đức Giáo Hoàng Clement X tôn phong Chân phước cho cha Gioan vào ngày 25 tháng 01 năm 1675, và Đức Giáo Hoàng Benedictus XIII đã nâng Ngài lên bậc Hiển thánh ngày 27 tháng 12 năm 1726. Đức Giáo Hoàng Pius XI đã tuyên xưng cha Gioan Thánh Giá là Tiến sĩ Hội Thánh vào ngày 24 tháng 8 năm 1926.

(Trích Gương Thánh Nhân - theo "Người Tín Hữu")
Huynh trưởng cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã làm cho cuộc đời Thánh Gioan nên một diễn tả trung thành mầu nhiệm thập giá của Chúa. Xin cho chúng con, nhờ lời chuyển cầu của Ngài, có được lòng yêu mến thập giá Chúa, để sẵn sàng chấp nhận thử thách và dám từ bỏ bản thân vì vinh quang Nước Chúa. Amen.
 

Sunday, August 4, 2013

Angels artworks-from HBTT


Vietnamese Angel-art by HBTT
The soul at its highest is found like God, but an angel gives a closer idea of Him. That is all an angel is: an idea of God.
~ Meister Eckhart.

American angel-art by HBTT
Angels are spiritual energy.
~ Alexis F. Hope.
Native American art by HBTT
 It is not known precisely where angels dwell - whether in the air, the void, or the planets. It has not been God's pleasure that we should be informed of their abode.
~ Voltaire.
Japanese Angel art by HBTT
Angels shine from without because their spirits are lit from within by the light of God.
~ Eileen Elias Freeman Quotes, The Angels' Little Instruction Book, 1994.
Indian Angel by HBTT
Silently, one by one, in the infinite meadows of heaven,
      Blossomed the lovely stars, the forget-me-nots of the angels.
~ Henry Wadsworth Longfellow Quotes, Evangeline.THE GIFT OF YOU

      Life gives us treasures to discover...
            like the sky, and the wind,
          and beautiful people like you.
                           * Havia

          BẠN LÀ QUÀ TẶNG

                  "Thầy đã gọi anh em là bạn hữu...".
                                (Gio-an 15:15)

Cuộc đời ban tặng chúng ta
Kho tàng khám phá bao la sang giầu
Tựa như trời đẹp muôn mầu
Và làn gió thổi qua cầu thắm duyên
Nhịp cùng bạn hữu thuyền quyên
Thương yêu dấu ái diệu huyền giống anh!
* Nguyễn Sông Núi
(Houston, Texas, "Xứ Cao Bồi", Aug. 2, 2013) 



 
St. Charbel tranh ve cua HBTT



Cn 151: Các Phép Lạ Của Thánh Charbel, Người Nước Lebanon (libăng)
Chủ Nhật, Ngày 20 tháng 9-2009
CN 151: CÁC PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHARBEL, NGƯỜI  NƯỚC LEBANON (LIBĂNG)
Nguồn: Spiritdaily.com
Xin Thánh Charbel, vị linh mục người Li Băng cầu bầu cho thế giới có hòa bình.

1. VỊ TU SĨ KHỔ HẠNH CỦA LI BĂNG.
Sau 16 năm sống khó nghèo, Cha Charbel được Bề Trên cho phép thoát khỏi thế giới trần tục để sống ẩn tu và trở nên một nhà tu khổ hạnh. Ở sâu trong một hang động gần tu viện, Cha Charbel sống suốt cuộc đời còn lại của ngài trong lời cầu nguyện và chiêm niệm. Ngài ăn chay thường xuyên và làm lao động tay chân.
Truyền thống chứng minh rằng cha Charbel có nhiều ơn đặc biệt khi ngài còn sống, chẳng hạn như ngài đã cứu các tu sĩ đồng môn khỏi con rắn độc khi ngài lên tiếng đuổi nó ra khỏi nơi ấy. Có nhiều người cảm nghiệm được ơn soi sáng và chữa lành khi người ta kêu Danh của ngài. Ngay cả sau khi ngài chết vào ngày 24 tháng 12 năm 1898, thì trong hồ sơ của tu viện có ghi rằng ngài luôn hoạt động sau khi đã qua đời. Hồ sơ nói rằng đức vâng lời của ngài làm cho ngài sống như một “thiên thần hơn là một con người”.
2. CÁC PHÉP LẠ: NGÔI MỘ LUÔN SÁNG NGỜI.
Thế giới kỳ vọng nghe thêm các phép lạ của Thánh Charbel vì mộ của ngài luôn được bao bọc bởi luồng ánh sáng lạ thường. Ðó là lời kể trong cuốn sách mà tu viện viết về người linh mục nổi tiếng của họ. Ánh sáng chỉ tàn lụi sau 45 ngày, nhưng lòng tin của người ta thì khác hơn. Các khách hành hương cố gắng ăn cắp những gì còn lại của ngài. Và giáo quyền đã có lý do để quật mở ngôi mộ của ngài ra. Xác của ngài nằm nổi lên khỏi đống bùn nhưng vẫn còn nguyên vẹn, không hư hại, giống như xác vừa được chôn ngày hôm qua.
Trong xác của ngài được ghi nhận là có chất nước màu đỏ như mầu máu chảy ra từ xác của ngài, và hiện tượng này được nhìn thấy cho đến bây giờ. Nước đỏ như máu được giữ trong một mảnh khăn vải, và theo như tu viện cho biết thì trong nhiều năm nay, khăn máu này là nguyên nhân chữa lành cho nhiều người.
Mộ của Thánh Charbel được khai mở ra 4 lần trong thế kỷ này, lần cuối là vào năm 1955, và mỗi lần như thế, người ta thấy thể xác chảy máu của ngài vẫn cử động như đang còn sống.”
3. NỮ TU MARIA ABDEL KAMARI ÐƯỢC CHỮA LÀNH.
Sau khi nữ tu Maria Abdel Kamari được chữa lành thì cha Charbel được phong Á Thánh. Nữ tu Maria bị bịnh nan y đường ruột. Bà không thể ăn được vì thức ăn không vào trong cơ thể. Bà nằm liệt giường suốt 14 năm. Bà đã lãnh nhận phép xức dầu thánh 3 lần. Năm 1950, bà được đưa tới ngôi mộ của Thánh Charbel và cầu nguyện tại đó. Bỗng dưng bà cảm thấy có một luồng năng lực mạnh mẽ và bà có thể đứng lên mà không cần ai giúp đỡ. Từ đó, Nữ tu Maria Abel Kamari được chữa lành hoàn toàn khỏi các bịnh tật của bà.
4. CÔ BÉ SAMIRA HANNOCH CÓ THỊ KIẾN VỀ THÁNH CHARBEL.
Gần đây, vào năm 1992, một số phép lạ của Thánh Charbel đã được các báo chí Tây Phương lưu  ý. Các báo của Thụỵ Ðiển  hay Anh Quốc, chẳng hạn như  báo The Guardian, đã kể về câu chuyện cô bé 15 tuổi tên Samira Hannoch thấy thị kiến về Thánh Charbel hiện ra ở nhà của cô, gần Stockholm, nước Thụy Ðiển. Từ đó, dầu thơm cứ đổ tuôn ra từ bức hình của Thánh Charbel ở trong nhà của cô, và ngài ban rất nhiều ơn chữa lành cho nhiều người.
5. BÀ NOUHAD EL CHAMI BỊ TÊ LIỆT MÀ ÐƯỢC THÁNH CHARBEL GIẢI PHẪU VÀ CHỮA LÀNH.
Vài tháng sau, vào tháng 1 năm 1993, một trường hợp khác xẩy ra, lần này ở Li Băng, với một phụ nữ 59 tuổi, tên là Nouhad El-Chami. Bà Nouhad là mẹ của 12 đứa con. Bỗng dưng bà bị tê liệt vì các mạch máu bị thu hẹp lại. Cơn bịnh xuất hiện nhanh chóng.
Vào ngày 21 tháng 1 năm 1993, bà Nouhad có một giấc mơ. Bà kể như sau:
“Hai nam tu sĩ đến bên giường bịnh của tôi. Một vị mà tôi nhận ra là Thánh Charbel đến gần tôi và đặt tay ngài vào cổ tôi và nói:
”Cha đến đây để mổ cổ giúp cho con lành bịnh.”
Lúc đó, tôi cố gắng quay sang nhìn vào khuôn mặt của ngài, nhưng tôi không thể nhìn được vì ánh sáng chan hòa phát ra từ thân xác và đôi mắt của Ngài, ánh sáng chọi lọi ấy làm cho đôi mắt tôi như bị lòa đi. Tôi bối rối hỏi ngài:
“Thưa Cha Charbel, tại sao cha lại muốn giải phẫu cho con? Bác sĩ nói con không cần phải giải phẫu mà.”
Nhưng Thánh Charbel đáp:
”Chắc chắn con cần phải giải phẫu, và Ta là Cha Charbel đến để giải phẫu giúp cho con.”
Tôi bèn nhìn lên tượng Ðức Mẹ Maria và nói:
”Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cứu giúp con, làm sao các tu sĩ này mổ xẻ mà không có thuốc tê và chỉ khâu?”
Rồi thì tôi nhận thấy tượng Ðức Mẹ Maria đứng giữa hai vị tu sĩ. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy đau ở nơi mà các ngón tay của Cha Charbel đặït lên. Tay cha xoa bóp cái cổ của tôi. Khi Thánh Charbel mổ xong thì vị tu sĩ kia đến gần, đặt tôi ở trong tư thế ngồi, và đặt một cái gối đàng sau lưng của tôi. Ngài với tay lấy một ly nước và đặt tay sau đầu tôi và nói:
“Con hãy uống nước này đi.”
Tôi đáp:
”Con không thể uống mà không có ống hút.”
“Chúng tôi đã mổ cho con rồi đó, và con sẽ uống nước này, rồi con sẽ đứng và đi được.”
Câu chuyện này đã được ghi chép và xuất bản trong cuốn sách thứ hai.  Nhà xuất bản là tu viện nơi mà Thánh Charbel đã sinh sống.
Sau đó, trong một giấc mơ khác, bà Nouhad mơ thấy thánh Charbel xuất hiện với bà. Từ đó, bà khám phá ra rằng trong nhà bà có tấm hình của Thánh Charbel chẩy dầu tươm ra. Việc chẩy dầu tiếp tục cho đến hiện nay, đã có một phóng viên tên Nabil Matraji ở Li Băng đã tới điều tra. Ông ta nói:
”Thật là điều đáng ngạc nhiên!”
Một điều lạ là không phải chỉ có tấm hình của Thánh Charbel tươm dầu chữa lành ở nhà bà Nouhad mà thôi, mà còn có bức hình của vị thánh tên Maroun tươm dầu nữa. Ngài là Ðấng sáng lập Dòng Maronite vào thế kỷ thứ 4. Bà Nouhad xác nhận rằng chính Thánh Maroun là vị thánh thứ hai mà bà Nouhad thấy khi hai vị tu sĩ đến giải phẫu cho bà và chữa lành bà hoàn toàn.
6. BÀ NADIA SADER ÐƯỢC CHỮA LÀNH BỊNH LIỆT.
Trong một bài báo ở Al-Anwar, Li Băng vào ngày 10 tháng 9 năm 1996, thì bà Nadia Sader mô tả những gì đã xẩy ra cho bà khi bà uống những chiếc lá từ một cây sồi của nhà bà Nouhad. Bà Nadia bị bịnh tê liệt. Bà đau đớn quá đỗi và có thể chết bất cứ lúc nào. Mẹ chồng bà khuyến khích con dâu hãy uống nước của các chiếc lá nấu chín vì các lá này đã được Thánh Charbel chúc lành. Bà Nadia miễn cưỡng uống nước này. Bà kể với phóng viên báo chí rằng:
“Tôi uống thứ nước nóng ấy và cảm thấy nóng như bị phỏng trong lòng. Thật là đau đớn, không thể  tả xiết được. Tôi đau từ phía cằm đến chân phải. Tôi rên rỉ, la hét, vừa đau vừa sợ. Bỗng dưng, tôi thấy một cảnh tượng đẹp đẽ nhất trong đời mình. Tôi thấy Thánh Tâm Chúa Giêsu đỏ như máu và đang đập nhịp. Thánh Tâm Chúa được bao quanh bằng ánh sáng và các con của tôi đang đứng chung quanh Thánh Tâm Chúa.”
“Thế rồi tôi bị bất tỉnh. Những người đứng chung quanh tôi kể lại là họ thấy chân phải của tôi cử động mạnh mẽ, rồi cử động lên xuống với một sức mạnh không tưởng tượng được. Nhưng lúc đó, vì bất tỉnh nên tôi không biết gì về điều ấy cả. Sau đó, mọi người lại thấy chân trái của tôi cử động mạnh mẽ như chân phải. Sự cử động mạnh mẽ làm cho tôi té nhào xuống nền nhà. Chân của tôi lại cử động mạnh mẽ mà dù cho có ba người lực lưỡng giữ cũng không thể làm cho nó ngừng được. Lúc đó, tôi vẫn bất tỉnh. Tôi nằm liệt giường đến sáng ngày thứ ba, khi con của tôi đến đánh thức tôi dậy, và lúc ấy, tôi biết rằng mình đã hoàn toàn được chữa lành. Tôi đứng lên, đi lại và phục vụ cho gia đình. “
Bà Nadia Sader không biết tại sao mà bà được ơn chữa lành, bà cứ nửa tin nửa ngờ, ngay cả khi được thị kiến về Thánh Charbel và Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu hỏi bà:
”Ta đã đưa con ra khỏi giường bịnh mà con vẫn không tin Ta à?”
Từ đó, nhà của bà Nadia trở nên một nơi hành hương vì các tượng ảnh của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Charbel cứ tươm dầu ra, nhưng bà Nadia vẫn tiếp tục bối rối giữa niềm tin và nỗi lo sợ, nhất là sau khi có người bảo bà rằng việc tươm dầu là công việc của ma quỷ.
Sau đó, Chúa Giêsu liên tiếp hiện ra với bà Nadia, và bà đã tin. Bà còn được nhận các thông điệp của Thánh Charbel. Ðây là một số trong các thông điệp của Thánh Charbel ban cho bà Nadia:
“Con hãy luôn xin ơn chữa lành phần hồn, và đừng sợ các bịnh phần xác.”
Và:
”Con hãy cầu nguyện cho kẻ sống, bởi vì đa số người sống đang chết, và các người chết là người đang sống.”
7. ÔNG RAYMOND NADER ÐƯỢC NĂM NGÓN TAY CỦA THÁNH CHARBEL IN LÊN CÁNH TAY ÔNG:
Ông Raymond Nader là một kỹ sư điện tử người Li Băng. Ông này có nhiều chứng cớ về các hoạt động của Thánh Charbel, bởi vì trên cánh tay của ông có in dấu phỏng của năm ngón tay của Thánh Charbel. Các dấu ngón tay phỏng này đã đổi mới đến 6 lần.
Tháng 4 năm 1997, ông Raymond kể cảm nghiệm của ông trước ống kính của TV. Vào ngày 9 tháng 11 năm 1994, ông ta trải qua một đêm ở trong tu viện kín mà Thánh Charbel đã sống trong 23 năm. Ông Raymond muốn suy gẫm và ông đã thắp 5 ngọn nến. Ông kể với đài truyền hình Murr rằng:
“Ðó là một đêm lạnh và yên tĩnh, thình lình tôi cảm thấy luồng khí ấm ở chung quanh tôi, ngay trong đêm lạnh giá. Sau đó có một luồng gió ấm áp và mạnh mẽ bắt đầu thổi đến. Tuy nhiên, tôi rất ngạc nhiên khi thấy lửa của các ngọn nến vẫn đứng yên mà không bị tắt đi. Tôi cố gắng giải thích theo khoa học, nhưng lại nghĩ mình bị ảo ảnh gì đây.”
“Bỗng dưng tôi mất các giác quan. Không còn sự ấm áp, gió hay lửa nữa. Tôi đang ở trong một thế giới khác, một thế giới chan hòa ánh sáng. Không phải là ánh sáng mà ta biết, nhưng ánh sáng trong suốt như nước hay thủy tinh. Ánh sáng không đến từ một hướng mà đến từ mọi nơi. Ánh sáng ấy sáng láng cả tỷ triệu lần hơn ánh sáng mặt trời.”
“Trong ánh sáng ấy, tôi cảm thấy một Sự Hiện Diện, dù không thể thấy, nhưng tôi biết là có Sự Hiện Diện. Một tiếng nói từ khắp nơi cất lên:
“Không, con không nằm mơ đâu. CON TỈNH THỨC HƠN BAO GIỜ.”
“Tôi nghe tiếng nói đó trong từng tế bào của mình, chứ không phải bằng lỗ tai của thể xác. Tiếng nói không bằng lời hay bằng âm thanh. Sự Hiện Diện đến với tôi như một cảm tưởng của sự bình an, niềm vui và tình yêu thật sự. Có những giây phút, tôi cảm thấy cảm nghiệm này chấm dứt. Tôi mong muốn niềm vui và sự bình an ấy kéo dài mãi mãi, và tôi ao ước nếu Sự Hiện Diện không thể ở lại với tôi nữa thì xin hãy mang tôi cùng đi, nhưng Ngài cho tôi hiểu rằng Ngài luôn ở đây.”
“Dần dần tôi cảm thấy mình tỉnh thức. Tôi nhìn những cây nến với sự kinh ngạc vì  tất cả nến đã tắt hết rồi. Ðồng hồ của tôi cho biết là đã 4 giờ qua đi trong nháy mắt. Tôi rời tu viện kín, và trên đường đi đến xe hơi, tôi cảm thấy sức nóng ở cánh tay mình. Tôi nghĩ có lẽ tôi bị một vết thương hay bị muỗi đốt. Nhưng sức nóng càng gia tăng nhiều hơn. Tôi cởi chiếc áo thung ra. Qua ánh sáng đèn xe hơi, tôi thấy 5 dấu ngón tay in trên cánh tay của tôi. Ðúng là năm ngón tay của một người, có cả những nếp nhăn của các móng tay. Các vết ấy rất nóng, nhưng không làm cho tôi bị đau, chỉ ngứa thôi. Trong 5 ngày, vết thương từ 5 ngón tay ấy làm cho tôi chảy máu và nước.”
Bác sĩ Nabil Hokayem, một bác sĩ thẩm mỹ, là một trong các bác sĩ nổi tiếng nhất ở Li Băng, xác nhận rằng đây là vết phỏng ở mức độ thứ hai. Vào ngày mừng kính Thánh Charbel, ngày 15 tháng 7 năm 1995, ông Raymond Nader lại có một cảm nghiệm mới và đặc biệt khi ông đến thăm viếng Tu viện của thánh Maroun. Ông ta kể rằng:
”Trên đường đến tu viện của Cha Thánh Charbel, tôi thấy một đoàn rước kiệu đi trước tôi. Tôi nhận ra các tu sĩ của Tu viện, nhưng cuối đoàn rước có một linh mục già nua. Tôi tiến đến gần ngài để hỏi vài câu. Khi tôi đến gần bên ngài thì mọi sự chung quanh tôi thay đổi. Mọi âm thanh biến đi, nhưng tiếng của vị linh mục vang dội trong đầu của tôi. Ðó là lúc mà tôi nghe được một trong sáu thông điệp mà Cha Thánh Charbel nói với tôi. Với mỗi thông điệp thì các dấu tay trên cánh tay tôi lại đổi mới.
Sau đây là các thông điệp mà Cha Thánh Charbel nói với tôi:
 “Thiên Chúa sáng tạo mỗi con người để chiếu sáng, chiếu sáng thế giới. Các con là ánh sáng của thế giới. Mỗi một người là một ngọn đèn để chiếu sáng. Thiên Chúa ban tấm kính sạch và trong suốt cho mỗi ngọn đèn, để đèn ấy có thể chiếu sáng và làm cho thế giới sáng ngời. Thế nhưng người ta giữ gìn tấm kính và quên đi ánh sáng; người ta chú ý đến hình dáng của tấm kính, mầu sắc và cách trang hoàng cho tấm kính ấy, cho đến khi tấm kính dầy lên, mờ tối và không cho ánh sáng chiếu soi qua tấm kính nữa. Vì vậy mà thế giới ngập chìm trong bóng tối. Thiên Chúa mong muốn thắp sáng thế giới. Tấm kính của các con phải trở nên trong suốt lần nữa. Các con phải hiểu rằng vì mục đích đó mà các con được sinh ra trên thế giới này.”
“Chúa Ki Tô biết những gì trong trái tim các con, và Ngài muốn trái tim các con. Ðừng đi tìm sự thật ở ngoài Chúa Ki Tô, khi các con biết Chúa Ki Tô thì  các con sẽ biết sự Thật và các con sẽ được giải phóng. Chúa Ki Tô muốn các con được giải thoát. Các con đừng sợ, và biết chắc chắn rằng Chúa Ki Tô đã chiến thắng thế giới.”
“Giáo hội của Chúa Ki Tô là tảng đá nghiền nát các làn sóng sự dữ.Chúa Ki Tô là con đường. Thánh giá của ánh sáng sẽ làm ngập lụt trái đất.”
“Lạy Cha Thánh Charbel, xin cha giúp cho tấm kính của đời sống chúng con trở nên trong suốt để ánh sáng của Thiên Chúa chiếu sáng qua chúng con mà đến với thế gian. Xin Cha cầu bầu cho nền hòa bình của thế giới. Amen.”
Kim Hà,
20/7/2006

Thursday, August 1, 2013

MỪNG THÁNH TỔ PHỤ


         MỪNG THÁNH TỔ PHỤ

             "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.
                Một thành xây trên núi, không tài nào
                                che khuất được."
                                  (Mát-thêu 5:14)

                 Mến Tặng Quý Sĩ Tử Dòng Chúa Cứu Thế
                  Việt Nam Nơi Quê Nhà Và Ở Hải Ngoại
                Đại Lễ Kính Thánh An-Phong Maria Ligôri, 
                  Giám Mục, Tiến Sĩ Hội Thánh, August 1.

Kính mừng Tổ Phụ An-Phong
Thiên tài đạo hạnh con mong theo ngài
Cuộc đời cõi tạm rất dài
Nổi danh nước Ý miệt mài vang ngân
Lập Dòng Cứu Thế từ nhân
Cho người tất bạt phận thân khốn cùng
Khổ đau số kiếp não nùng
Ai nào không khỏi lòng chùng xót thương?
Hân hoan sĩ tử muôn phương
Tiến dâng thánh lễ thơm hương nguyện cầu
Khấn xin đức mến thắm mầu
Chân thành một dạ như hầu anh em! 
* Nguyễn Sông Núi
(St. Thomas of Canterbury Church, Chicago, Illinois, July 30, 2013)
                                *   *   *   *   *
     Thân Mời Viếng Thăm "TRANG MẠNG MẸ TA":
                     <ducmefatimamancoi.org>

 


Saturday, July 20, 2013

LỜI NHÂN CHỨNG (Tho DongKhe)


 
Tranh ve cua HBTT (Jesus Of Nazareth)
LỜI   NHÂN CHỨNG

       ( TV 119 : 46 )
 

Văn  không  hay,  nhưng  tình  chân  thật,

Những  bài  thơ  ngắn,

Những  lời  ngợi  ca,

Con  trải lòng  mình trên giấy trắng …

Mong loan  ra xa, để người ta thương  Thầy

Gởi Bạn mười  phương  Niềm Tin rất  thật :

“Có Đức Chúa Trời “.

Thơ  tôi  là Tiếng Lòng  tôi  đó,

Bạn đọc rồi,  xin nhớ tới  “Nguồn  Thơ”.

 Không  phải  thơ tôi cuồng  si

mà Tình Ngài bất biến,.

Dù lời thơ uyển chuyển đến đâu

cũng  không  thể  nói hết  Nhiệm  Mầu .

Ngài chia sẻ niềm  đau,

dù  thế  gian  ruồng bỏ Bạn  từ lâu,

Ngài vẫn lẻo đẻo  theo  sau,

như người  tình  chung  thủy .

Quý  hơn  cơm  áo  gạo  tiền,

Ngài che  chở  Bạn  bằng  Ơn  thiêng .

Ngài  lắng  nghe Bạn

từ tiếng lao xao,

đến lời  kêu gào  than khóc …

Những  tháng  ngày  lao đao

Ngài xông xáo

gánh  thay  Bạn phần  nào nặng  nhất .

Tình  Ngài  bất  tận,

lòng  Ngài  vô  biên …
 
Ngài là Viên Ngọc Quí,

là Ngọn Lủa Hồng,

là Suối Nước Trong

của đời tôi đó …

Bạn ơi  !  thơ tôi bỏ ngỏ

Lời thơ dang dỡ, 

chờ Bạn tiếp nối ….

                Đông  Khê 7/20/2013

 

 

Sunday, July 14, 2013

TỪ CẢM HỨNG ĐẾN THỰC HIỆN


TỪ CẢM HỨNG ĐẾN THỰC HIỆN


 

Lm TRĂNG THẬP TỰ

1. CẢM HỨNG HAY TỨ THƠ

Cảm hứng hay tứ thơ là những hình ảnh mới lạ, có sức chuyển tải nhiều ý tưởng và tâm tình. Nó chợt đến như một câu thơ đã thành toàn, hoặc như một cụm từ, hoặc chỉ mới là một hình ảnh còn mơ hồ.

Ví dụ 1:

Bài Ngậm Ngùi của Huy Cận đầy hình ảnh, gần như mỗi câu là một hình ảnh:

Một trong những hình ảnh của bài thơ đã xuất hiện đầu tiên, kéo theo những hình ảnh khác đủ để chuyển tải ý và tình của tác giả, và tất cả dệt thành bài thơ. Hình ảnh đầu tiên có thể sẽ nằm ở mở đầu, ở giữa hay ở đoạn kết của bài thơ. Chỉ tác giả mới biết hình ảnh đầu tiên đem lại sức sáng tạo làm nên bài thơ là hình ảnh nào.

Ví dụ 2, 3, 4 - nơi Hàn Mạc Tử:

Trời hỡi bao giờ tôi chết đi…

Như song lộc triều nguyên ơn phước cả…

Nàng hỡi nàng, muôn năm sầu thảm…

Ví dụ 5: Trăng

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc nửa soi dăm trường…. (Kiều)

Vầng trăng tấm bánh bẻ ra…

Trăng bẻ làm đôi tấm bánh đời… (TTT)

 

Vừa có cảm hứng mà đã viết ngay đôi khi cũng làm nên kiệt tác, nhưng thường thì vừa cảm hứng đã viết ngay sẽ rất nghèo và xoàng. Cần phải có thinh lặng. Thinh lặng giúp nảy nở các hình ảnh phụ hoạ cho hình ảnh ban đầu.

Cảm hứng ban đầu thường cũng giúp ta biết nên dùng thể thơ nào. Nếu chưa rõ, chính sự thinh lặng sẽ chỉ cho ta.

Bài thơ cũng như bài văn thường bị hỏng vì một trong hai lý do: Hoặc vì thiếu mất điều cần nói, hoặc vì ôm theo những cái rườm rà không cần thiết. Chính sự thinh lặng sẽ giúp ta biết phải thêm điều gì và bỏ điều gì.

Xin lưu ý: Thinh lặng chứ không phải là suy nghĩ. Suy nghĩ sẽ khiến bài thơ thành một tác phẩm đẽo gọt của người thợ làm thơ chứ không phải của thi sĩ.

Thinh lặng không phải để suy nghĩ nhưng để thấm thật sâu hình ảnh ban đầu.

2. THINH LẶNG TRONG CHÚA

Với thơ đạo, thinh lặng thôi chưa đủ, còn phải thinh lặng trong Chúa.

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng Chúa với ta.

Câu thơ nguyên thuỷ của Bà Huyện Thanh Quan là “Một mảnh tình riêng ta với ta”. Chỉ cần thay một trong hay chữ “ta” bằng chữ “Chúa”, thực tại trở nên khác hẳn, không còn cái ảm đạm, u hoài, phiền muộn, nhưng có một hơi ấm. Chỗ khác nhau giữa con người tự nhiên và con người Kitô hữu là sự hiện diện của Thiên Chúa. Sống hiệp nhất với Thiên Chúa thật giản dị: Chỉ cần nhớ Thiên Chúa đang hiện diện và ngỏ lời với Ngài, cùng suy nghĩ với Ngài về lịch sử, về cuộc sống.

Trong Thiên Chúa, ta chiêm ngắm điều vừa cảm nhận. Ta có thể gọi đây là tâm nguyện hay chiêm niệm.

Cần nhớ: Cầu nguyện là để gặp Chúa và sống với Ngài chứ không phải để làm thơ. Cầu nguyện “để làm thơ” có nghĩa là đang chia trí và bài thơ sẽ cạn cợt, chắp vá, què cụt.

Cứ gặp Thiên Chúa cách vô vị lợi, một lúc nào đó sau khi cầu nguyện, thơ sẽ đến, thật êm đềm.

3. HẠT GIỐNG ÂM THẦM MỌC

Dụ ngôn Tin Mừng.

Đến một lúc, thơ chín, cả hình ảnh, thể thơ và vần điệu đều đến cho ta cùng một lúc, ta sẽ viết liền một mạch. Nếu bị “bí vần”, hãy cứ để mặc chỗ lạc vần và viết tiếp cho hết bài, đừng dừng lại lâu kẻo tứ thơ bị gián đoạn. Viết xong rồi sẽ đọc lại và chỉnh sửa sau.

Khi chỉnh sửa cần chú ý tránh thừa và tránh thiếu: gạch bỏ những ý thừa, câu thừa và từ thừa; sau đó sẽ thấy lộ ra những chỗ còn thiếu. Đây là áp dụng cách ta vẫn làm khi viết văn xuôi. Với bài thơ đã thật sự chín, thường chỉ phải sửa rất ít.

Chỉnh lại những từ và những câu chưa chính xác.

 

 

Ý VÀ HỌA TRONG VĂN THƠ ĐẠO


Ý VÀ HỌA TRONG VĂN THƠ ĐẠO


 

. Lm TRĂNG THẬP TỰ

 

Bài thơ hay phải vừa là một bản nhạc vừa là một bức tranh. Thơ là nhạc vì đọc lên nghe vừa nhịp nhàng đan xen trầm bổng, vừa lảnh lót lôi cuốn nhờ vần điệu. Thơ lại như tranh vẽ vì chỉ cần nghe qua là thấy hiện lên cả một bức họa đầy cảnh sắc sinh động.

Giải Đặng Đức Tuấn 2010 chưa có những bài thơ thật hay. Trong bài trước chúng tôi đã tóm tắt những chỉ dẫn về vần và các thể thơ, tức là về âm thanh và nhịp điệu, để giúp bạn trẻ có những khái niệm mở đầu. Bạn trẻ nên tìm thêm nơi những tài liệu khác những hướng dẫn chi tiết và phong phú hơn.

Riêng ở bài này, chúng tôi xin đóng góp mấy suy tư và kinh nghiệm nhằm giúp ngòi bút bạn trẻ thêm giàu ý tưởng và hình ảnh khi làm thơ viết văn ca tụng Chúa.

1. TỪ VÈ ĐẾN THƠ

Viết cho nhịp nhàng, thuận bằng trắc và đúng theo yêu cầu mỗi thể thơ, không khó. Tuy nhiên với bằng ấy, ta chỉ mới có được những bài văn vần, gần như những bài vè, chưa phải thơ. Thơ cũng khác với diễn ca. Diễn ca là chuyển một nội dung giáo huấn sang thể văn vần cho dễ nhớ, dễ thuộc.

Thơ không những mang theo ý mới mà còn chở cả tâm tình, qua những hình ảnh. Chính hình ảnh là “cảnh” sinh “tình”.

Để không dừng lại ở một bài vè hay một bài diễn ca, cần tránh dùng những từ nối: nhưng, vì, tuy nhiên, mặc dầu, bởi, lẽ ra, thế rồi… Thơ không lý luận bằng các từ nối nhưng gợi ý gợi tình bằng hình ảnh. Nhà thơ dùng những hình ảnh nối tiếp nhau gợi hứng cho người ta tưởng tượng, suy tư và rung cảm. Bài Qua đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan, chỉ có 8 câu và mỗi câu là một bức tranh. Nơi bài Ngậm ngùi của Huy Cận, 12 câu là 12 bức tranh.

Hiểu như thế, khi làm thơ ta không nên triển khai từ một ý tưởng nhưng từ một hình ảnh. Chúa Giêsu không làm thơ nhưng bài giảng của Ngài giàu chất thơ vì rất nhiều hình ảnh: chim sẻ, bông huệ, nhúm men, ngọn đèn, khung cửa, bầy chiên, vườn nho, cây nho, cây vả, con đường, cậu con bụi đời, hạt giống, tiệc cưới, vv… Để ý, bạn sẽ thấy mỗi hình ảnh trong thơ đều khác với hình vẽ trên giấy. Hình ảnh trong thơ có thể ôm theo rất nhiều ý tưởng khác nhau. Nó là những gợi hứng phong phú. Đó là lý do tại sao các dụ ngôn của Chúa người ta diễn giải cả 2000 năm rồi vẫn chưa cạn ý…

Cảm hứng một bài thơ có thể đến với bạn từ một ý tưởng mà bạn thấy có thể diễn thành hình ảnh, hoặc từ một hình ảnh giàu sức chuyên chở những ý và tình bạn muốn diễn tả. Tuy nhiên đó chỉ mới là một hạt giống, một nụ hoa, một trái non. Bạn đừng cầm bút viết vội. Bài thơ viết vội sẽ rất dở. Hãy đợi hạt giống mọc lên; hãy đợi hoa nở; hãy chờ trái chín.

Ta van nài, này thiếu nữ Gia Liêm

Đừng đánh thức, đừng thức tình yêu dậy

Khi tình yêu chưa đến giờ cảm thấy. (Dc 2,7)

Bạn đừng thụ động ngồi chờ nhưng cần tích cực góp phần chở che và chăm sóc cho ơn soi sáng ban đầu bạn đã nhận được. Bằng cách nào? Bằng suy niệm và chiêm niệm. Suy niệm và chiêm niệm cũng là nguồn mạch gợi cho bạn rất nhiều cảm hứng mới lạ.

2. GẬM NHẤM THIÊN THƯ

Do đòi hỏi của âm thanh và nhịp điệu, nhiều khi ta phải thế một từ đã quen bằng một từ tương đương nhưng mang một âm sắc khác. Để có vốn từ phong phú, cách riêng là một vốn từ rõ nghĩa và dễ hiểu cho lãnh vực đức tin và tâm linh, ta cần đọc sách nhiều, chú tâm gạn lọc và ghi nhớ. Đọc sách còn giúp ta nâng cao cách suy nghĩ và diễn tả.

Việc đọc sách đạo, thinh lặng nghiền ngẫm rồi đối thoại với Chúa, được gọi là “gậm nhấm thiên thư” hay “đọc sách thiêng liêng”. Đây là nguồn cụ thể đem lại nhiều ý tưởng hay đẹp trước khi chính bản thân ta có thể được ơn tự mình nghiệm ra những ý mới.

Người xưa nói: “Một ngày không đọc sách, soi gương thấy thụt lùi”. Không đọc sách, ta sẽ loay hoay mãi với một số ý tưởng cũ rích, mình ngỡ là hay lắm nhưng thiên hạ biết cả rồi. Vì thế, muốn viết nên những bài văn bài thơ có sức tôn vinh Thiên Chúa, ta cần phát huy tinh thần hiếu học, thích đọc sách. Cụ thể, cần vạch chương trình đọc sách đều mỗi ngày.

Cần chọn sách để đọc. Là con cái Chúa, trước hết ta cần chăm chỉ đọc Lời Chúa trong Kinh Thánh, không riêng Tân Ước mà cả Cựu Ước nữa. Cựu Ước là một kho tàng phong phú mênh mông. Nhiều tác phẩm đạt giải văn chương Nobel và nhiều tác phẩm văn chương lừng danh khác của Âu Mỹ xua và nay đã lấy cảm hứng từ bộ Kinh Thánh. Tiếp đó là những sách diễn giải giáo lý, rồi tới sách về đời sống các vị thánh và những tác phẩm dẫn đường tâm linh của các ngài. Sau nữa là các tác giả Công giáo gần đây và các sách báo Công giáo khác nói chung.

3. NHỮNG KHOẢNH KHẮC TRẦM TƯ

Văn là vẻ đẹp, chương là vẻ sáng. Luyện văn là luyện cách diễn tả vẻ đẹp, tựa như cắm hoa. Cỏ cũng có giá trị kinh tế, như để nuôi bò chẳng hạn. Đồng cỏ xanh giúp mắt ta nghỉ ngơi thư giãn nhưng ít khi ta chú ý quan sát một ngọn cỏ. Còn một bông hoa đẹp, dù nhỏ xíu, rất dễ lôi cuốn sự chú ý của ta. Ta thích thú ngắm nhìn, thưởng thức. Để có hoa đẹp, người ta thường phải chọn giống, chăm sóc, tưới bón và cắt tỉa. Giữa đủ thứ hoa, người cắm hoa lành nghề chỉ chọn một số bông hoa thật ưng ý rồi sắp xếp công phu theo cái nhìn thẩm mỹ của mình. Làm một bài văn hoặc bài thơ hay cũng thế, không phải cứ vơ hết mọi ý tưởng và hình ảnh đến trong đầu ta nhưng cần chắt lọc kỹ lưỡng.

Những khoảnh khắc trầm tư thinh lặng sẽ trao tặng cho ta những tia sáng để biết phải chọn lọc ý tưởng, hình ảnh và từ ngữ thế nào cho đánh động lòng người. Ta cần can đảm loại bỏ những cái hay cái đẹp không phục vụ cho ý chính của bài. Những tư tưởng, hình ảnh và từ ngữ dù hay nhưng không cần thiết cho ý chính sẽ gây nên sự hỗn độn, thiếu mạch lạc, khiến bài viết bị phân tán, lạc hướng và mất hẳn vẻ đẹp nó lẽ ra nó có thể có.

Trầm tư và đối thoại với Chúa. Suy niệm và chiêm niệm đơn giản là thế, không gì khác hơn. Trong việc này, mục đích là gặp gỡ Chúa và sống thân mật với Ngài. Đừng bao giờ làm thơ dệt nhạc đang khi cầu nguyện, vì như thế là lấy chuyện sáng tác làm mục đích và biến Chúa thành phương tiện – đàng khác quả sẽ bị hái non, chưa kịp chín. Hãy cứ cầu nguyện với hết tâm hồn, gạt tứ thơ ý nhạc sang một bên, đừng nghĩ gì đến. Khi đã xong giờ cầu nguyện, một lúc nào đó, bất chợt tứ thơ hứng nhạc bạn đã “hy sinh từ bỏ” ấy sẽ trở lại, ăm ắp đầy tràn.

4. SỐNG VỚI CHÚA

Bạn hãy tự xây dựng những khoảnh khắc trầm tư với Chúa bắt đầu từ thời khóa biểu hiện nay trong đời Kitô hữu của bạn. Cha mẹ đã dạy bạn vừa thức giấc là ghi dấu thánh giá cảm tạ Chúa và dâng ngày mới cho Chúa. Bạn hãy kéo dài việc ấy thành dăm ba phút thinh lặng. Mỗi tối ăn cơm xong, bạn vẫn đọc kinh tối và đoạn Tin mừng hôm sau trước khi học bài. Giờ đây hãy kéo dài việc đọc kinh ấy thêm vài phút thinh lặng. Khi lên giường ngủ, bạn ghi dấu thánh giá và đọc một hoặc ba kinh Kính mừng. Mẹ bạn đã dạy bạn như thế. Giờ đây hãy kéo dài việc ấy thêm vài phút thinh lặng.

Ở đoạn kết truyện ngắn “Mối thiện cảm”, bạn Antôn Nguyễn Thanh Hậu viết: “Lễ xong, tôi cố gắng nán lại thêm vài phút chỉ để nói chuyện thêm với Chúa vì tôi muốn níu giữ thêm cái khoảnh khắc này.” Đó là kinh nghiệm sống đã góp phần làm nên tác phẩm đạt giải nhất bộ môn văn của giải Đặng Đức Tuấn lần này.

Mỗi lần có việc tới khu vực nhà thờ, bạn hãy vào chào Chúa và thinh lặng với Chúa vài phút trước đã. Nếu muốn nhân lên thêm, bạn có thể chọn những phút đầu giờ chiều, khi giấc nghỉ trưa; hoặc khi chiều buông, nắng vàng hiu hắt hay hoàng hôn quạnh quẽ…

Ngoài những khoảnh khắc dành ưu tiên cho Chúa như thế, bạn hãy tập thường xuyên sống trước sự hiện diện của Thiên Chúa, luôn sống như thấy Chúa đang âu yếm nhìn. Khi ngắm nhìn vạn vật dưới ánh mắt Chúa, bạn sẽ khám phá ra tình yêu Ngài trong mọi sự. Tất cả mọi thứ quanh bạn sẽ trở thành có hồn, trở thành những hình ảnh lung linh ngụ ý rất nhiều về tình yêu Thiên Chúa.

5. CÁI HAY CÁI ĐẸP PHẢI DỰA TRÊN SỰ THẬT VÀ ĐIỀU LÀNH

Bạn thường nghe nói: chân, thiện, mỹ. Ba từ ấy có nghĩa là: thật, tốt và đẹp. Triết học Kitô giáo nói rằng ba nét ấy nằm sẵn nơi mọi thụ tạo của Thiên Chúa; cả ba hòa nhập vào nhau, nâng đỡ lẫn nhau và cả ba đều là phản ảnh của chính Thiên Chúa Tạo Hóa. Thiên Chúa vừa là chính Sự Thật, Sự Tốt Lành và Sự Đẹp, vừa là nguồn gốc của mọi sự thật, điều tốt và cái đẹp trên cõi đời này.

Hiểu như thế, bạn sẽ thấy ngay văn chương và nghệ thuật chỉ chỉ hay và đẹp đúng nghĩa khi chuyên chở sự thật và điều thiện. Tài viết văn làm thơ Chúa ban cho bạn không phải để bạn ca tụng những chuyện vớ vẩn, giả dối, đồi bại. Tài năng ấy là để phục vụ sự thật, điều thiện và vẻ đẹp thanh cao, tươi sáng.

Đã hẳn bạn chẳng bao giờ dùng ngòi bút để ca tụng điều xấu và sự giả dối. Tuy nhiên như thế chưa đủ. Bạn còn được mời gọi viết hay để ca ngợi sự thật, những điều thiện và những vẻ đẹp phản ảnh Thiên Chúa. Trên đường luyện văn, bạn hãy tập luôn suy nghĩ đúng sự thật, sống chân thật, và luôn diễn tả điều có thật một cách đơn sơ và dễ hiểu. Bạn hãy suy nghĩ để luôn đứng vững trong điều tốt, cổ võ điều tốt và can đảm bênh vực điều tốt.

6. VỀ VỚI THINH LẶNG

Sau cùng, để chọn được những ý tưởng và hình ảnh tuyệt vời cho bài viết của mình, bạn cần tự tạo cho mình một môi trường thuận lợi: Sự thinh lặng. Để đọc sách, để trầm tư và gặp Chúa, bạn cần yêu thích sự thinh lặng.

Bạn cần biết cách thoát khỏi áp lực của văn minh tiêu thụ, và phải can đảm nữa mới làm được điều đó: tắt TV, tránh nhạc kích động, tiết chế nhắn tin, chat, lướt mạng cách vô ích, loại trừ rượu bia, thuốc lá, vv… Làm chủ được giác quan bên ngoài, bạn sẽ giữ được tấm lòng bình an, thanh thản và trong sáng.

Hãy giành lại cho mình những khoảnh khắc riêng tư và những khoảnh khắc để sống một mình với Thiên Chúa Chí Thánh, rồi bạn sẽ cảm nghiệm được sự tự do tuyệt vời của người dấn thân phục vụ Đấng là Chân, Thiện, Mỹ. Gần gũi Ngài, bạn sẽ dạt dào những cảm hứng để viết nên những bài thơ và bài văn thật hay và hữu ích cho nhân loại.

Giữa xã hội xô bồ, bạn hãy tự tạo cho những góc hẹn và giờ hẹn để gặp Chúa. Hãy tự kiến tạo cho mình một sa mạc để có thể khám phá Đấng Vô Cùng trong thinh lặng và yêu mến. Ở đó, bạn sẽ không kìm lòng được và sẽ thốt lên muôn vàn thơ nhạc tuyệt vời. Đó không phải là sáng kiến của tôi nhưng là lời mời gọi chính Thiên Chúa đã muốn ngỏ với bạn từ ngàn xưa:

“Này Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, và ở đó, lòng kề lòng, Ta sẽ thổ lộ tâm tình” (Hs 2,16).